Thiết bị bay không người lái (UAV) được Việt Nam xác định là một trong những công nghệ chiến lược, với phạm vi ứng dụng ngày càng mở rộng từ nông nghiệp, logistics đến quản lý hạ tầng, đô thị, môi trường và cứu hộ cứu nạn.
Theo ông Lưu Quang Minh, Phó Vụ trưởng Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN), Việt Nam đã hình thành một số doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo có khả năng làm chủ nhiều công nghệ quan trọng như thiết kế, tích hợp hệ thống, điều khiển bay, trí tuệ nhân tạo tại biên, truyền thông bảo mật, vật liệu và phần mềm điều khiển.
Tỷ lệ nội địa hóa trong sản xuất UAV tại Việt Nam hiện đạt trung bình khoảng 70%. Một số sản phẩm đã xuất khẩu sang những thị trường có yêu cầu kỹ thuật cao như Mỹ và châu Âu.
UAV vận chuyển nông sản tại Điện Biên. (Ảnh: Vietnam Post)
Từ làm chủ công nghệ đến hình thành một ngành công nghiệp
Chia sẻ tại diễn đàn kinh tế tầm thấp và công nghiệp UAV gần đây, ông Tạ Ngọc Thanh, đại diện Mạng lưới Hàng không Vũ trụ và Thiết bị bay không người lái Việt Nam, cho rằng phát triển UAV nội địa không đồng nghĩa phải tự sản xuất tất cả linh kiện.
“Điều quan trọng là doanh nghiệp nắm quyền quyết định, kiểm soát hệ thống và có khả năng cung ứng sản phẩm lặp lại với chất lượng ổn định” , ông Thanh nói và đề xuất quá trình nội địa hóa theo ba bước.
Giai đoạn đầu tận dụng thế mạnh tích hợp hệ thống, phần mềm, AI và dịch vụ vận hành để tạo sản phẩm, đơn hàng.
Tiếp đó, doanh nghiệp tự chủ những cấu phần có khả năng tiếp cận như khung thân, camera, trạm điều khiển, mô-đun truyền dữ liệu. Về dài hạn, nguồn lực R&D tập trung vào pin, động cơ chuyên dụng, cảm biến hàng không và hệ thống tự hành.
Cách tiếp cận này cũng mở rộng vai trò của doanh nghiệp tư nhân. Thay vì chỉ bán thiết bị, họ có thể tham gia từ thiết kế, sản xuất linh kiện, tích hợp hệ thống đến phát triển phần mềm, khai thác dữ liệu, vận hành và cung cấp giải pháp cho từng ngành.
Tuy nhiên khoảng cách từ một mẫu UAV bay được đến sản phẩm có thể thương mại hóa vẫn còn lớn.
Ông Thanh cho rằng một trong những khó khăn hiện nay là môi trường nghiên cứu, thử nghiệm và hoàn thiện sản phẩm. Doanh nghiệp có thể gặp những quy định chưa đồng bộ trong quá trình nghiên cứu, chế tạo và thử nghiệm. Với startup có nguồn lực hạn chế, việc tự đầu tư toàn bộ hạ tầng thử nghiệm càng khó khăn.
Vì vậy, ông đề xuất xây dựng hạ tầng thử nghiệm dùng chung để doanh nghiệp tiếp cận với chi phí và thủ tục phù hợp, thay vì mỗi đơn vị tự tìm địa điểm, đầu tư cơ sở thử nghiệm và xử lý các thủ tục liên quan.
Mẫu UAV vận chuyển vật tư y tế nhẹ do doanh nghiệp Việt phát triển.
Những khó khăn này không chỉ nằm ở hạ tầng. Ông Trần Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Giám đốc điều hành Mạng lưới Công nghệ Hàng không - Vũ trụ và Thiết bị bay không người lái Việt Nam, cho rằng Việt Nam còn phụ thuộc nhiều vào thiết bị nhập khẩu, trong khi năng lực tự nghiên cứu động cơ, chip điều khiển và cảm biến còn hạn chế.
Hạ tầng kiểm soát không lưu tầm thấp, hành lang thử nghiệm và nguồn lực tài chính dài hạn cho nghiên cứu, sản xuất công nghệ cao cũng là những vấn đề cần giải quyết.
Mở không gian thử nghiệm cho doanh nghiệp
Một trong những thay đổi chính sách đang được triển khai là tạo môi trường để UAV được kiểm chứng trong thực tế.
Cuối tháng 6, Điện Biên cấp phép sandbox sản phẩm, dịch vụ ứng dụng UAV, tập trung vào bốn lĩnh vực gồm nông nghiệp, logistics, y tế và đo đạc bản đồ số.
Doanh nghiệp có thể tham gia cung cấp công nghệ, thiết bị, phần mềm, vận hành, sửa chữa và bảo dưỡng. Mọi hoạt động bay vẫn phải đăng ký, thẩm định và đáp ứng yêu cầu về quốc phòng, an ninh, an toàn bay, tần số và an toàn thông tin.
Bộ KH&CN xác định mục tiêu của sandbox không chỉ là thử UAV có bay được hay không, mà quan trọng hơn là đánh giá hiệu quả khi công nghệ được đưa vào sản xuất và đời sống. Dữ liệu thu được sẽ là cơ sở để đánh giá khả năng vận hành, quản lý rủi ro và tiếp tục hoàn thiện chính sách.
Một điểm nghẽn khác là tần số phục vụ UAV. Tháng 7, Cục Tần số vô tuyến điện đã làm việc với doanh nghiệp và các cơ quan liên quan về nhu cầu phổ tần, khó khăn khi sử dụng băng tần dùng chung, phương thức cấp phép và sandbox cho các công nghệ UAV mới.
Phó Vụ trưởng Lưu Quang Minh cho biết Bộ KH&CN sẽ tiếp tục phối hợp các bộ, ngành để cân bằng yêu cầu bảo đảm an toàn, an ninh vùng trời với tạo không gian phát triển cho UAV và kinh tế tầm thấp.
Các nhiệm vụ được xác định gồm làm chủ công nghệ lõi, xây dựng tiêu chuẩn, hình thành khu thử nghiệm, đặt hàng phát triển hệ thống và thúc đẩy ứng dụng trong nông nghiệp, hạ tầng, cứu hộ, đô thị thông minh, logistics và môi trường.
Mẫu UAV viễn thám do doanh nghiệp Việt phát triển được lực lượng công an ứng dụng để giữ vững an ninh và bảo đảm trật tự xã hội.
Cần thị trường để UAV Việt trưởng thành
Bên cạnh tháo gỡ thủ tục và xây dựng hạ tầng thử nghiệm, các doanh nghiệp cho rằng ngành UAV cần cơ chế tạo thị trường.
Ông Trần Anh Tuấn đề xuất Nhà nước đặt hàng hoặc tài trợ các dự án R&D nhằm phát triển công nghệ lõi, đồng thời khuyến khích tập đoàn tư nhân tham gia đặt hàng nghiên cứu.
Khu vực công cũng có thể trở thành khách hàng ban đầu đối với những ứng dụng phù hợp trong nông nghiệp công nghệ cao, môi trường, cứu hộ cứu nạn và các nhiệm vụ chuyên ngành.
Các dự án UAV cần thêm kênh vốn ưu đãi, quỹ đổi mới sáng tạo và nguồn vốn công - tư cho nghiên cứu dài hạn.
Ở góc độ chuỗi cung ứng, ông Tạ Ngọc Thanh cho rằng không nên để từng doanh nghiệp phát triển biệt lập. Doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học có thể chia sẻ năng lực, trong khi một doanh nghiệp hệ thống chịu trách nhiệm cuối cùng từ thiết kế, tích hợp đến kiểm chứng và bảo trì sản phẩm.
Hạ tầng thử nghiệm dùng chung, quy trình đo kiểm chuẩn hóa và nhân lực có chứng chỉ sẽ là những điều kiện để doanh nghiệp chuyển từ bán thiết bị đơn lẻ sang cung cấp giải pháp hoàn chỉnh.