Quảng cáo #23

Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm và dự báo cả năm 2026

Theo TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Nghiên cứu Kinh tế BIDV, tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm đã đạt mức cao nhất 16 năm. Tăng trưởng GDP cả năm có thể đạt 9-9,2% và nếu quyết tâm cao, ở kịch bản tích cực, có thể đạt 9,5-10%. Nhóm tác giả cũng chỉ ra 4 rủi ro thách thức đồng thời đưa ra 6 khuyến nghị quan trọng.
TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV
TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV
Nhóm chuyên gia
102 bài viết

LTS: TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Nghiên cứu Kinh tế BIDV vừa công bố báo cáo về Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm và dự báo cả năm 2026. Chúng tôi xin đăng tải nguyên văn báo cáo để quý độc giả cùng theo dõi.

------

Kinh tế Việt Nam khép lại nửa đầu năm 2026 với kết quả đáng khích lệ, GDP tăng 8,18% so cùng kỳ - mức cao nhất trong vòng 16 năm với các động lực tăng trưởng khá; lạm phát tăng trong tiên lượng và tầm kiểm soát. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều rủi ro, thách thức: xung đột tại Trung Đông còn phức tạp, khó lường; lạm phát toàn cầu tăng, khiến lãi suất neo cao; một số địa phương tăng trưởng thấp hơn mục tiêu, động lực tăng trưởng truyền thống chưa đồng đ ề u trong khi động lực mới chưa phát huy nhiều; lạm phát tiến sát ngưỡng mục tiêu, lãi suất neo cao, doanh nghiệp vẫn đối diện với nhiều khó khăn, thách thức….v.v. Điều này đòi hỏi hành động quyết liệt, hiệu quả hơn , tháo gỡ các điểm nghẽn ; phát huy các động lực tăng trưởng cả truyền thống và mới; nâng cao năng lực nội sinh, phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng cao nhất cả năm 2026 gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế, tạo nền tảng vững chắc cho những năm tới.

Bối cảnh kinh tế quốc tế

Trong 6 tháng đầu năm 2026, kinh tế thế giới chịu tác động chủ yếu từ hai cú sốc lớn: Một là , xung đột tại Trung Đông kéo dài đẩy giá năng lượng, chi phí logistics, bảo hiểm hàng hải, phân bón và nhiều mặt hàng tăng mạnh, làm tăng giá cả, lạm phát toàn cầu, trong khi tăng trưởng kinh tế chậm lại. Hai là , thời tiết diễn biến cực đoan, thiên tai lớn tại nhiều nơi (trận động đất kép tại Venezuela, nắng nóng bất thường tại Châu Âu,…v.v.), gây thiệt hại toàn cầu khoảng 80-100 tỷ USD (theo Aon), đang trở thành “tổn thất thường xuyên” chứ không phải là theo sự cố như trước đây.

Kinh tế thế giới cho thấy sự phân hóa rõ rệt, đặc biệt là tại các nền kinh tế lớn. Kinh tế Mỹ tăng trưởng khá nhưng chậm lại (GDP quý 1 tăng 2,1% so cùng kỳ, GDP quý 2 dự báo chỉ tăng 1,3-1,4%), chủ yếu là do chiến sự và lạm phát tăng trở lại với CPI tổng thể tăng 4,2% so cùng kỳ (từ 2,4% tháng 1/2026) - cao nhất 3 năm, buộc Fed giữ nguyên lãi suất điều hành (3,5-3,75%) và nhiều khả năng giữ nguyên đến hết năm nay. WB (6/2026) dự báo kinh tế Mỹ năm 2026 chỉ tăng 2,2% (tương đương 2,1% của năm 2025). Kinh tế Eurozone còn trì trệ (quý 1 chỉ tăng 0,7% so cùng kỳ, dự báo cả năm chỉ tăng 0,8%, từ mức tăng 1,4% năm 2025), trong khi lạm phát cũng tăng lên. Kinh tế Trung Quốc phục hồi nhờ xuất khẩu, tiêu dùng phục hồi nhẹ và đầu tư bán dẫn, AI và dữ liệu nhưng thị trường bất động sản và xây dựng vẫn khó khăn, lạm phát tăng nhẹ. ADB (7/2026) dự báo kinh tế Trung Quốc tăng khoảng 4,6% năm 2026 (từ mức tăng 5% năm 2025) và lạm phát tổng thể tăng khoảng 1% (từ mức 0% năm 2025).

Tín hiệu tích cực xuất hiện từ đầu tháng 6 khi căng thẳng Trung Đông tạm lắng xuống, giá dầu thô Brent hạ nhiệt về 72-75 USD/thùng. Tuy vậy, tiến trình đàm phán hòa bình còn giằng co, dù eo biển Hormuz đang dần mở cửa trở lại.

Hệ quả là các tổ chức quốc tế đồng loạt hạ dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2026. WB (6/2026) dự báo tăng trưởng toàn cầu xuống còn 2,5% (từ 2,9% năm 2025), lạm phát tăng khoảng 4% (từ mức 3,6% năm 2026). IMF và ADB (7/2026) cũng có chung nhận định về xu hướng tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại, dù được bù đắp một phần bởi xu hướng đầu tư công nghệ, bán dẫn, AI, dữ liệu và năng lượng; lạm phát tăng trong năm 2026, trước khi chậm lại trong năm 2027.

Trong khu vực ASEAN, các tổ chức quốc tế (WB, ADB…) dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt mức cao nhất khu vực năm 2026-2027 (6,8-7,4%), nhưng lạm phát gia tăng (3,8-4,2%) năm 2026-2027 (từ mức 3,3% năm 2025).

Kinh tế Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026 đạt nhiều kết quả đáng khích lệ trong bối cảnh toàn cầu bất định với 6 điểm sáng chính.

Một là, kiên định đẩy mạnh cải cách thể chế, thủ tục hành chính; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, quyết tâm đạt mục tiêu tăng trưởng 10% gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao năng lực cạnh tranh và nội sinh của nền kinh tế

Trong 6 tháng đầu năm 2026, chính quyền các cấp đẩy nhanh tiến trình hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư - kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và nội sinh của nền kinh tế là điểm sáng nổi bật. Quốc Hội đã thông qua 9 Luật, 10 Nghị quyết , Chính phủ đã ban hành hơn 280 văn bản quy phạm pháp luật; tiếp tục rà soát, hoàn thiện 40 Dự án Luật, Nghị quyết trình Quốc hội tại kỳ họp tháng 10/2026.

Đáng chú ý, Nghị quyết số 168/NQ-CP ngày 27/06/2026 đã cập nhật kịch bản tăng trưởng (so với Nghị quyết 01/NQ-CP, tháng 1/2026), trong đó đặt mục tiêu tăng trưởng 11,9% trong 6 tháng cuối năm và yêu cầu các địa phương phấn đấu đạt mức tăng trưởng 10-12%. Cùng với đó, bộ ba Nghị quyết (68,79,10 của Bộ Chính trị) về phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế Nhà nước và kinh tế FDI tạo khung chính sách quan trọng để phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp, hộ kinh doanh, tăng liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa, phát triển thị trường vốn dài hạn và thu hút đầu tư chất lượng cao. Việc triển khai 11 Nghị quyết chuyên đề và 15 quyết định của Chính phủ về cải cách thủ tục hành chính cũng ghi nhận kết quả tích cực ban đầu, với mục tiêu cắt giảm 30% ngành nghề kinh doanh có điều kiện, giảm 50% thời gian xử lý thủ tục hành chính và giảm 50% chi phí tuân thủ, được người dân, doanh nghiệp và địa phương đánh giá cao.

Điều hành chính sách tiếp tục theo hướng tăng hiệu quả phối hợp với chính sách tài khóa mở rộng có trọng tâm, trọng điểm gắn với đẩy mạnh đầu tư công, chính sách tiền tệ linh hoạt, chủ động trong bối cảnh dư địa eo hẹp. Một số chính sách hỗ trợ tiếp tục được duy trì (giảm thuế, phí; gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuế đất đến hết năm; kéo dài thời hạn giảm thuế nhập khẩu ưu đãi, thuế bảo vệ môi trường và thuế GTGT đối với xăng dầu đến hết 30/9/2026…), với tổng số tiền miễn, giảm, giãn hoãn thuế, phí khoảng gần 90.000 tỷ đồng; nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ kinh doanh lên 1 tỷ đồng/năm; định hướng, khuyến khích tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên như nhà ở xã hội, khu công nghiệp, khu chế xuất và các dự án trọng điểm có sức lan tỏa lớn…v.v.

Những nỗ lực này hướng tới mục tiêu khơi thông nguồn lực, phát huy các động lực tăng trưởng, phấn đấu đạt tăng trưởng 10% ngay trong năm 2026, đồng thời giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế trong bối cảnh bên ngoài còn nhiều biến động.

Hai là, tăng trưởng GDP 6 tháng đạt mức cao nhất trong vòng 16 năm với các động lực tăng trưởng khá đồng đều

Tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm đạt 8,18% so với cùng kỳ, là mức cao nhất trong 16 năm, với quý sau cao hơn quý trước (quý 1 tăng 7,83%, quý 2 tăng 8,39%). Động lực tăng trưởng khá đồng đều từ phía cung và cầu; trong đó có 20/34 địa phương tăng trưởng trên 8% và 7/34 địa phương tăng trưởng trên 10%.

Về phía cung , khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,81% so cùng kỳ , cao nhất trong 3 khu vực và cao nhất trong 8 năm, đóng góp 3,69 điểm %, tương đương 4 7 ,2% vào mức tăng trưởng chung. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chủ lực, tăng 10,23%, đóng góp 2,7 điểm % (33,1%); xây dựng tăng 9,51% YoY (đóng góp 6,85%), cao nhất trong 14 năm, nhờ đầu tư công và phát triển hạ tầng được đẩy mạnh. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 10,8% YoY, cao nhất trong 8 năm nhờ tăng trưởng khá đồng đều của các ngành công nghiệp, hiệu ứng tích cực từ đầu tư công, xuất khẩu và tiêu dùng nội địa; PMI sản xuất tháng 6 đạt 51,8 điểm, duy trì mở rộng tháng thứ 12 liên tiếp. Khu vực dịch vụ tăng 8,09%, đóng góp 4 7,14 % vào tăng trưởng chung, nhờ thương mại, vận tải - kho bãi, du lịch, lưu trú - ăn uống, tài chính - ngân hàng, KHCN và dịch vụ công tăng khá. Khu vực nông - lâm nghiệp - thủy sản tăng trưởng khá cao ( 3,87%), cao nhất trong 7 năm, đóng góp 0,46 điểm % (5, 65 %) vào mức tăng trưởng chung, tiếp tục khẳng định vai trò trụ đỡ, đảm bảo an ninh lương thực, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, xuất khẩu.

Về phía cầu , tiêu dùng cuối cùng tăng 8,15% YoY , cao nhất trong 8 năm, đóng góp 5,56 điểm % (gần 68%) vào mức tăng trưởng chung; trong đó tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tăng 12,9%, cao nhất trong 4 năm; lượng khách quốc tế đạt 12,3 triệu lượt (tăng 14,9%). Tích lũy tài sản (đầu tư) tăng 15,2% YoY , đóng góp 4,92 điểm % (60,15%) vào mức tăng trưởng chung nhờ vốn đầu tư toàn xã hội tăng 12,9%, cao nhất trong 8 năm.

Trong đó, giải ngân đầu tư công tăng 12,7% so cùng kỳ, tuy còn chậm nhưng quy mô gấp 2,6 lần trước dịch Covid-19; đầu tư tư nhân tăng 12,8%, gấp 1,9 lần bình quân 6 tháng các năm 2020-2025; vốn FDI đăng ký đạt 34,65 tỷ USD, tăng 61%; FDI giải ngân đạt 13,03 tỷ USD, tăng 11,2%, cao nhất trong 8 năm, cho thấy niềm tin của nhà đầu tư và doanh nghiệp vào triển vọng phát triển tiếp tục được củng cố. Xuất khẩu hàng hóa tăng 21% so cùng kỳ, cũng là mức cao nhất trong 5 năm qua. Tuy nhiên, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ đều tăng mạnh hơn xuất khẩu , dẫn đến nhập siêu, làm giảm tăng trưởng (tính theo phía cầu) là điểm cần lưu ý như nêu dưới đây.

Ba là, tín dụng tăng cùng đà sản xuất, tỷ giá và thị trường ngoại hối cơ bản ổn định: Tín dụng ước tăng 7,7% so với cuối năm 2025 nhờ sự khởi sắc của các hoạt động đầu tư, tiêu dùng, công nghiệp và xây dựng (như nêu trên) và một phần là doanh nghiệp vay để bù đắp chi phí năng lượng, chi phí đầu vào và logistics tăng do tác động từ xung đột tại Trung Đông. Tỷ giá liên ngân hàng trong 6 tháng đầu năm chỉ tăng nhẹ 0,05%, thấp hơn cùng kỳ 2024-2025 chủ yếu là do NHNN linh hoạt, dùng nhiều công cụ chính sách để can thiệp và bình ổn thị trường ngoại hối trong khi vẫn ổn định lãi suất để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, cùng với cán cân ngoại tệ khá cân bằng, giá vàng giảm (làm giảm nhu cầu mua và tình trạng buôn lậu)...v.v. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá tăng vẫn tiềm ẩn do lạm phát, lãi suất quốc tế còn neo cao, đồng USD mạnh lên và cán cân thương mại hàng hóa và dịch vụ thâm hụt, áp lực bán ròng của khối ngoại trên thị trường chứng khoán (TTCK)…v.v.

Bốn là, doanh nghiệp gia nhập thị trường tăng khá, niềm tin kinh doanh cải thiện: Trong 6 tháng đầu năm có gần 170 nghìn DN gia nhập thị trường , tăng +11,2% so với cùng kỳ, phản ánh tác động tích cực từ thực thi Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. Đáng chú ý, niềm tin của DN cải thiện khi có tới 83,4% DN đánh giá tình hình kinh doanh tốt lên và ổn định hơn trong Q3/2026; doanh nghiệp tự tin vươn ra thế giới (quy mô đầu tư ra nước ngoài đạt 1,21 tỷ USD, gấp 2,5 lần cùng kỳ và mở rộng tại 33 quốc gia) cho thấy tác động ban đầu của các chính sách hỗ trợ đầu tư ra nước ngoài.

Năm là, t hu NSNN tăng tích cực, tạo dư địa mở rộng tài khóa : thu NSNN ước đạt 62% dự toán năm, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm 2025 nhờ đà phục hồi của sản xuất, tiêu dùng và XNK trong khi vẫn duy trì hỗ trợ miễn giảm, gia hạn thuế, phí, tiền thuê đất, hỗ trợ an sinh xã hội (khoảng 90 nghìn tỷ đồng), tạo dư địa mở rộng tài khóa. Tuy nhiên, chi ngân sách chỉ tăng nhẹ 0,1% so với cùng kỳ chủ yếu do đầu tư công còn chậmvà chưa đồng đều như nêu dưới đây.

Sáu là, hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh, đạt nhiều chuyển biến thực chất. Trong 6 tháng đầu năm 2026, các hoạt động tiếp xúc cấp cao, hợp tác song phương và đa phương, ngoại giao kinh tế diễn ra sôi động, đi kèm nhiều sáng kiến, thỏa thuận và hợp đồng cụ thể, góp phần mở rộng không gian phát triển, kết nối nguồn lực chiến lược, nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và củng cố vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu. Moody's nâng triển vọng tín nhiệm quốc gia lên "Tích cực"; hiện chỉ còn cách mức xếp hạng "Đầu tư" (Investment Grade) một bậc theo đánh giá của S&P và Fitch, TTCK có thể sẽ chính thức được nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp trong tháng 9 tới.

Bốn rủi ro, thách thức chính trong những quý còn lại của năm 2026

Một là, rủi ro, thách thức từ bên ngoài vẫn hiện hữu, khó lường: (i) rủi ro địa chính trị (nhất là tại Trung Đông) và cạnh tranh chiến lược thương mại - công nghệ còn nhiều bất định; (ii) tăng trưởng chậm lại tại nhiều nền kinh tế lớn (như nêu trên), ảnh hưởng tiêu cực đến thương mại, đầu tư, tiêu dùng và du lịch của Việt Nam; (iii) lạm phát toàn cầu tăng trở lại, lãi suất giảm chậm, làm gia tăng rủi ro nợ công và nợ tư, tăng áp lực lãi suất và tỳ giá; và (iv) các rủi ro phi truyền thống như: an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh chuỗi cung ứng, an ninh mạng - dữ liệu, thiên tai và biến đổi khí hậu bất thường.

Hai là, m ột số động lực tăng trưởng truyền thống còn tăng chậm, năng lực nội sinh chưa cải thiện, trong khi động lực mới còn chậm phát huy . Đóng góp của chênh lệch XNK hàng hóa và dịch vụ vào tăng trưởng chung ở mức âm do thâm hụt cán cân thương mại hàng hóa và dịch vụ ở mức cao (22,1 tỷ USD), nhập siêu hàng hóa có xu hướng tăng cao do: (i) DN tăng nhập hàng để tích trữ nguyên nhiên liệu đầu vào trong bối cảnh rủi ro và giá cả gia tăng; (ii) nhiều mặt hàng nhập khẩu tăng giá nhanh khiến tổng kim ngạch nhập khẩu tăng. Bên cạnh đó, cấu trúc nền kinh tế còn bất cập khi XNK và xuất siêu vẫn chủ yếu đến từ khối DN FDI (chiếm khoảng 80% kim ngạch xuất khẩu và 72% kim ngạch nhập khẩu hàng hóa); khối doanh nghiệp FDI xuất khẩu tăng 26% và xuất siêu 8,3 tỷ USD, trong khi khu vực doanh nghiệp trong nước chỉ tăng xuất khẩu 4,6% và nhập siêu tới gần 25 tỷ USD.

Đầu tư toàn xã hội mới chỉ đáp ứng 35% nhu cầu vốn cho tăng trưởng; giải ngân đầu tư công tăng 12,7%, thấp hơn mức tăng 19,8% của cùng kỳ năm 2025 và mới đạt 31,2% kế hoạch năm (riêng giải ngân vốn đầu tư công cho KHCN mới đạt 10%). Tiến độ cũng chưa đồng đều (26 bộ, 14 địa phương tỷ lệ giải ngân thấp hơn bình quân cả nước), khiến đóng góp của đầu tư công với tăng trưởng chưa đạt kỳ vọng. Doanh thu bán lẻ (loại trừ yếu tố giá) tăng 7,3%, thấp hơn mức trước dịch Covid-19 (8,5%); doanh thu du lịch lữ hành thấp hơn cùng kỳ năm 2025, cho thấy tác động kích cầu chưa đồng đều, trong khi người dân, khách du lịch vẫn thận trọng chi tiêu trước áp lực giá cả và lạm phát…v.v.

Trong khi đó, các động lực tăng trưởng mới như ứng dụng KHCN, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, cải cách thể chế kinh tế, liên kết vùng và lan tỏa từ tăng trưởng tại các đầu tàu kinh tế…còn cần thời gian để thẩm thấu và phát huy tốt hơn; một số địa phương tăng trưởng thấp hơn mục tiêu và thấp hơn mức trung bình cả nướckhiến GDP 6T/2026 vẫn thấp hơn mục tiêu 9,7%, đòi hỏi quyết liệt, chủ động và đồng bộ hơn để đạt mục tiêu tại Nghị quyết 168/NQ-CP.

Ba là, k hu vực DN tăng trưởng chưa đồng đều và vẫn đối mặt với nhiều khó khăn : doanh nghiệp thành lập mới, gia nhập thị trường tăng mạnh nhưng doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường vẫn khá lớn (109,9 nghìn doanh nghiệp trong 6T/2026, tăng 18% so với cùng kỳ), cho thấy sự phân hóa giữa các ngành. Một số ngành thâm dụng lao động và có biên lợi nhuận mỏng phục hồi chậm (IIP ngành da giày chỉ tăng 4%; xuất khẩu dệt may chỉ tăng 0,9%, giày dép tăng 0,5%, thấp hơn nhiều mức tăng 21% của XK chung); chi phí tăng, biên lợi nhuận giảm; nhu cầu vốn lớn trong khi lãi suất neo cao; tỷ lệ nội địa hóa chỉ khoảng 36,6% và cải thiện chậm…là những điểm cần lưu ý, đặc biệt là đối với DN nhỏ và vừa và hộ kinh doanh, đòi hỏi cải thiện mạnh mẽ, thực chất môi trường đầu tư - kinh doanh, kết nối chặt chẽ hơn giữa DN FDI và doanh nghiệp trong nước để các khu vực DN, các ngành và lĩnh vực phát triển đồng đều hơn, nội sinh tăng lên.

Bốn là, lạm phát tăng tiệm cận ngưỡng mục tiêu , lãi suất chịu áp lực neo cao , đòi hỏi nỗ lực, đồng bộ hơn nhiều để đạt mục tiêu tăng trưởng cả năm 2026 và tiếp theo

CPI tháng 6 tăng 4,69% so với cùng kỳ năm trước và CPI bình quân 6 tháng tăng 4,38%, mức cao nhất cùng kỳ trong 6 năm. Lạm phát cơ bản tháng 6 tăng 4,5% và bình quân 6 tháng tăng 4,12% so với cùng kỳ, cao nhất trong giai đoạn 2023-2026. CPI bình quân tăng tiệm cận ngưỡng mục tiêu (4,5%) do các nhóm hàng hóa, dịch vụ thiết yếu như năng lượng, lương thực – thực phẩm, nhà ở và vật liệu xây dựng, giao thông tăng cao (tăng 4,7-6,7%, đóng góp 87,2% vào mức tăng CPI chung). Trong khi đó, lạm phát do cầu kéo còn tác động chưa rõ nét (cung tiền tăng nhưng vòng quay tiền còn chậm, ở mức 0,3 lần trong 6T/2026, thấp hơn mức 0,32 lần của 6T/2025 và cùng kỳ nhiều năm trước).

Lãi suất huy động và cho vay chịu sức ép neo cao và phân hóa theo ngành, lĩnh vực, đối tượng. Lãi suất huy động và cho vay tăng từ quý 4/2025 đến hết quý 1/2026, đang dần ổn định nhưng vẫn neo cao, chủ yếu là do: (i) tín dụng tăng nhanh hơn nhiều so với huy động vốn trong 5 năm gần đây, nhất là trong năm 2025 (tín dụng tăng 19,1% so với huy động vốn tăng 15,4%) và 6T/2026 (tín dụng tăng 7,7% trong khi huy động vốn tăng khoảng 5% so với cuối năm 2025), buộc các TCTD duy trì lãi suất tiền gửi cao để tăng nguồn vốn cho vay và đảm bảo thanh khoản; (ii) các kênh đầu tư khác như vàng, chứng khoán, bất động sản, tài sản số, khởi nghiệp…khá hấp dẫn, cạnh tranh với kênh tiền gửi ngân hàng; (iii) xung đột tại Trung Đông làm cho giá cả, lạm phát tăng, khiến FED và các NHTW khác trì hoãn giảm lãi suất, tạo áp lực lên mặt bằng lãi suất USD, tỷ giá và thị trường chứng khoán (hiện tượng bán ròng của nhà đầu tư ngoại vẫn diễn ra) tại các thị trường mới nổi (trong đó có Việt Nam). Dự báo, lãi suất còn chịu áp lực neo cao đến hết năm 2026, nên ổn định được mặt bằng lãi suất hoặc giảm nhẹ có thể coi là thành công trong năm nay. N hững rủi ro, bất định, tác động tiêu cực như nêu trên khiến mục tiêu tăng trưởng 10% năm 2026 của Việt Nam trở nên rất thách thức.

Dự báo tăng trưởng kinh tế và lạm phát Việt Nam cả năm 2026

Về tăng trưởng GDP: với nền tảng tăng trưởng khả quan trong nửa đầu năm và khả năng tận dụng tốt hơn dư địa chính sách tài khóa, niềm tin của DN và nhà đầu tư được củng cố, Nhóm Nghiên cứu dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam cả năm 2026 có thể đạt 9-9,2% ( kịch bản cơ sở ), trong đó các động lực tăng trưởng mới (như KHCN, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế ban đêm, cải cách thể chế kinh tế, thúc đẩy liên kết vùng và phát huy vai trò của các đầu tàu kinh tế, kịp thời tháo gỡ các dự án tồn đọng…có thể giúp GDP tăng thêm 1,4-1,8 điểm % nếu khai thác hiệu quả. Để đạt được mức tăng trưởng 9-9,2% cả năm 2026, tăng trưởng GDP quý 3 và quý 4 cần đạt từ 9,8-10,8% .

Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm và dự báo cả năm 2026- Ảnh 1.

Về lạm phát, tính đến khả năng chi phí đẩy có thể giảm tốc khi Trung Đông dần tái lập trạng thái "bình thường mới", giá dầu hạ nhiệt, áp lực cầu kéo dự báo sẽ tăng mạnh hơn khi tín dụng dự báo tăng 15-16%, vòng quay tiền cải thiện (khoảng 0,65-0,7 lần), hiệu ứng tăng lương từ 1/7/2026 (có thể khiến CPI tăng thêm 0,07-0,1 điểm %). Với sự phối hợp chính sách ngày càng tốt hơn, đảm bảo nguồn cung hàng hoá, dịch vụ thiết yếu, kiểm soát tốt kỳ vọng lạm phát….; CPI bình quân cả năm dự báo tăng 4,3-4,6%, vẫn trong tầm kiểm soát, hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng 10% trở lên trong nửa cuối năm 2026.

Với kịch bản tích cực nhất, khi các yếu tố trên khả quan hơn, cùng đồng bộ các giải pháp của chính quyền các cấp, sự đồng lòng và vào cuộc của người dân, DN và địa phương (nhất là chính quyền địa phương 2 cấp vận hành suôn sẻ)….; tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2026 có thể đạt 9,5-10%, nhưng CPI bình quân sẽ cao hơn (tăng 4,5-4,7% ).

Với kịch bản tiêu cực , tăng trưởng kinh tế năm 2026 dự báo chỉ đạt 8-8,5%; lạm phát bình quân sẽ thấp hơn (tăng khoảng 4,2-4,4% ).

Sáu kiến nghị

Một là, chính quyền các cấp tiếp tục đẩy nhanh hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả thực thi. Theo đó, cần tập trung triển khai hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đảng XIV, Kết luận 18-KL/TW, 10 quyết sách đột phá, Nghị quyết số 168/NQ-CP; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo tinh thần 11 Nghị quyết của Chính phủ; kịp thời tháo gỡ vướng mắc vận hành chính quyền 2 cấp; chuẩn bị kỹ hồ sơ các dự án luật sửa đổi trọng điểm (Luật đất đai, nhà ở, kinh doanh BĐS, hỗ trợ DNNVV, hợp nhất Luật NSNN và Luật đầu tư công…) trình Quốc Hội thông qua trong kỳ họp tới, cùng các văn bản hướng dẫn kịp thời.

Hai là, tiếp tục chủ động ứng phó hiệu quả với hậu chiến sự tại Trung Đông . Chính phủ sớm ban hành Chiến lược/đề án đảm bảo an ninh năng lượng theo tinh thần Nghị quyết 70-NQ/TW; sớm rà soát, cập nhật Quy hoạch điện VIII điều chỉnh; hoàn thiện khung pháp lý kinh doanh xăng dầu và tái cơ cấu hệ thống phân phối; phát triển hệ thống dự trữ năng lượng, nâng năng lực dự trữ lên 2-3 tháng và tiến tới 3-4 tháng theo chuẩn khu vực. Chủ động theo dõi, đàm phán để giảm rủi ro bị áp thuế theo Điều khoản 301, 232 Luật thương mại 1974 của Mỹ; hỗ trợ doanh nghiệp đa dạng hóa thị trường, chuỗi cung ứng, truy xuất nguồn gốc, khai thác hiệu quả hơn các FTA; tăng kết nối DN nội địa và DN FDI theo Nghị quyết 10-NQ/TW.

Ba là , thực hiện đồng bộ, hiệu quả các nhóm giải pháp, phấn đấu đạt tăng trưởng 10% trở lên trong 6 tháng cuối năm . Cụ thể, đối với các động lực truyền thống : (i) Giữ vững mặt trận xuất khẩu để giảm nhập siêu hàng hóa, tăng xuất khẩu dịch vụ (nhất là logistics và du lịch), đa dạng hóa thị trường, nguồn cung, tuyến vận tải và đối tác…; (ii) Kích cầu đầu tư : bằng cách giải quyết kịp thời các vướng mắc và tăng trách nhiệm người đứng đầu trong giải ngân đầu tư công, phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch đề ra; sớm ban hành hướng dẫn thực thi Nghị quyết 10/NQ-TW, gắn kết chặt chẽ 3 khu vực kinh tế (Nhà nước, tư nhân và FDI); quyết liệt cải cách thực chất thủ tục hành chính như đã đề ra; (iii) Tiếp tục triển khai hiệu quả các giải pháp kích cầu tiêu dùng trong nư ớc .

Đối với các động lực tăng trưởng mới, cần đẩy nhanh việc triển khai đồng bộ 10 quyết đột phá của Bộ Chính trị mới có thể phát huy tốt hơn các động lực mới như KHCN, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế ban đêm, cải cách thể chế kinh tế, thúc đẩy liên kết vùng và phát huy vai trò của các đầu tàu kinh tế, kịp thời tháo gỡ các dự án tồn đọng, tài sản công dôi dư…v.v.

Bốn là, kiên định ổn định kinh tế vĩ mô , kiểm soát lạm phát, không đánh đổi giữa tăng trưởng cao và bất ổn, ô nhiễm môi trường. Theo đó, chính sách tài khóa là chủ lực, trọng điểm; chính sách tiền tệ (CSTT)bổ trợ, chủ động, linh hoạt, hiệu quả. Thực hiện hiệu quả các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí và tiền thuê đất đến hết năm 2026; điều hành giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý với lộ trình và liều lượng phù hợp, bảo đảm nguồn cung và bình ổn giá hàng hóa, dịch vụ thiết yếu; xử lý nghiêm tình trạng “đầu cơ, găm hàng, thao túng giá”. Điều hành CSTT đảm bảo cân bằng lãi suất - tỷ giá, luôn bảo đảm thanh khoản hệ thống ngân hàng, ổn định mặt bằng lãi suất, bình ổn thị trường vàng; lành mạnh hóa thị trường BĐS và kiểm soát rủi ro liên thông tài chính - BĐS, trong đó cần quan tâm xây dựng Đề án phát triển nhà ở phù hợp khả năng chi trả của người dân, cùng với việc khuyến khích phát triển nhà ở cho thuê và nhà ở xã hội.

Năm là, xây dựng và triển khai Đề án cải cách thị trường tài chính nhằm góp phần huy động, phân bổ và sử dụng nguồn tài lực hiệu quả . Quyết tâm nâng hạng TTCK theo kế hoạch và nâng hệ số tín nhiệm quốc gia hướng tới mức “Đầu tư” trước năm 2030. Sớm vận hành trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại TP.HCM và Đà Nẵng, thị trường carbon, thị trường giao dịch tài sản mã hóa; nâng cấp thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh; có chiến lược và giải pháp cụ thể huy động nguồn lực trong dân; thu hút FDI có chọn lọc, tăng kết nối với DN trong nước, góp phần đáp ứng nguồn lực cho tăng trưởng.

Cuối cùng , chú trọng nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức chống chịu, tự chủ của nền kinh tế. Theo đó, Chính phủ xem xét sớm ban hành Đề án tăng năng suất lao động; tăng hiệu quả đầu tư (hệ số ICOR phấn đấu ở mức 4-4,5 lần); xây dựng Đề án nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, tự chủ chiến lược, sức chống chịu của nền kinh tế; Đề án chuyển đổi xanh quốc gia ; chú trọng đảm bảo an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh chuỗi cung ứng và an ninh mạng – dữ liệu…trong bối cảnh rủi ro, bất định ngày càng tăng.