Quảng cáo #23

Loài cây giúp người dân duy trì nghề truyền thống, quả dùng làm thuốc trong Đông y: Vì sao Hà Nội cấm trồng?

Cây sinh trưởng mạnh, có khả năng tái sinh từ rễ và mọc ở nương rẫy, ven rừng, khe suối.

Cây dướng có vỏ chứa sợi dùng làm giấy thủ công, quả được sử dụng trong y học cổ truyền, đồng thời là nguồn nguyên liệu giúp người dân một số địa phương duy trì nghề truyền thống và tạo sinh kế. Tuy nhiên, loài cây này lại nằm trong danh mục 18 loài cây cấm trồng của Hà Nội.

Vì sao Hà Nội cấm trồng cây dướng?

Ngày 12/10/2026, UBND TP Hà Nội ban hành Quyết định 143/2026/QĐ-UBND về quản lý công viên, cây xanh, mặt nước. Văn bản có hiệu lực từ ngày 22/10, trong đó Phụ lục 03 liệt kê 18 loài cây cấm trồng.

Cây dướng, tên khoa học Broussonetia papyrifera, đứng thứ 11 trong danh sách. Theo Phụ lục 03, cây dướng bị cấm trồng vì là "loài cây xâm thực, cành giòn, rễ nông, dễ gãy đổ khi mưa bão, quả chín rụng gây mất vệ sinh môi trường".

Cây dướng và nghề truyền thống: Hà Nội cấm trồng vì lý do gì? - Ảnh 1.

Dướng còn được gọi là ró, cốc, cấu, dâu giấy, dó, lộc tử, thuộc họ Dâu tằm. Lá có mép răng cưa, hình dạng thay đổi ngay trên cùng một cây, trong khi quả chín chuyển sang màu đỏ cam. Cây sinh trưởng mạnh, có khả năng tái sinh từ rễ và mọc ở nương rẫy, ven rừng, khe suối. Lớp vỏ bên trong chứa sợi dài, được sử dụng làm nguyên liệu giấy ở nhiều nước châu Á.

Không chỉ có giá trị làm giấy, cây còn được dùng trong y học cổ truyền. Theo tài liệu dược liệu của Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, quả dướng có tên chử thực tử, xuất hiện trong các bài thuốc nhằm bổ thận, lợi tiểu và hỗ trợ một số chứng phù thũng. Lá và vỏ rễ cũng được sử dụng theo kinh nghiệm dân gian.

Loài cây giúp người dân duy trì nghề truyền thống, quả dùng làm thuốc trong Đông y: Vì sao Hà Nội cấm trồng? - Ảnh 1.

Quyết định 143/2026/QĐ-UBND quy định phạm vi không trồng các loài thuộc danh mục cấm, đồng thời đặt ra việc lập kế hoạch từng bước thay thế những cây đã tồn tại theo trách nhiệm quản lý. Trong khi Hà Nội hạn chế trồng dướng vì yêu cầu an toàn trong đô thị và đảm bảo vệ sinh môi trường, ở nhiều vùng núi, chính lớp vỏ cây lại giúp người dân duy trì nghề thủ công.

Cao Bằng: Từ vỏ cây rừng đến sinh kế của người Nùng An

Tại cụm Dìa Trên, xóm Quốc Dân, xã Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng, người Nùng An nhiều đời làm giấy bản. Theo báo Cao Bằng ngày 5/9/2026, hơn 40 hộ tại đây hiện còn duy trì nghề. Giấy được sử dụng trong việc thờ cúng, cưới hỏi và các nghi lễ, sau đó dần có thêm những ứng dụng trong mỹ thuật và quà lưu niệm.

Theo Tạp chí Heritage của Vietnam Airlines, để hoàn thành một tờ giấy, người thợ trải qua khoảng 10 công đoạn. Vỏ cây được đun, tước lớp ngoài, lấy phần trắng rồi xử lý với vôi, ngâm, giã thành bột. Bột giấy được khuấy với nước và chất nhớt thực vật, sau đó seo (xeo) thành lớp mỏng, ép rồi phơi. Công việc đòi hỏi người làm phải có kinh nghiệm để giấy đều, dai và không bị rách.

Một nghiên cứu của các tác giả thuộc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, công bố năm 2024, chỉ ra người Nùng An sử dụng cả vỏ cây dó và cây dướng trong nghề giấy. Hai loài có tên khoa học khác nhau và có thể được phối trộn để điều chỉnh độ bền.

Tuy nhiên, nguồn cây khai thác trong tự nhiên hiện đang giảm. Báo Biên phòng ngày 8/10/2026 ghi nhận, các gia đình tại Dìa Trên đã chủ động trồng thêm cây nguyên liệu thay vì chỉ vào rừng thu hái. Việc gây trồng giúp người làm nghề chủ động nguồn vỏ và có điều kiện duy trì sản xuất lâu dài.

Giá trị kinh tế cũng thay đổi khi giấy được làm thành sổ tay, quạt, bì thư và vật liệu vẽ tranh. Báo Cao Bằng tháng 4/2025 ghi nhận gia đình chị Nông Thị Kính có thu nhập gần 80 triệu đồng/năm từ hoạt động làm giấy cải tiến. Đến tháng 10/2026, Báo Biên phòng cho biết gia đình chị Kính có khoảng 12 triệu đồng/tháng từ du lịch gắn với nghề, bao gồm dịch vụ lưu trú và trải nghiệm.

Phú Thọ: Giấy từ vỏ dướng được đưa vào nghệ thuật đương đại

Không chỉ Cao Bằng, làng Suối Cỏ của người Mường tại xã Liên Sơn, tỉnh Phú Thọ (trước thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình) cũng sử dụng vỏ dướng để làm giấy dó. Theo Báo Quân đội nhân dân ngày 17/7/2026, khi họa sĩ Thu Trần đến đây năm 2022, cả xóm còn 5 hộ bám nghề. Mỗi mẻ giấy cần khoảng 7 đến 10 ngày với 35 công đoạn thủ công.

TTXVN năm 2023 ghi nhận cơ sở của nghệ nhân Nguyễn Văn Chúc nhận những đơn hàng tới hàng nghìn tờ giấy, với giá bán khoảng 10.000 đến 15.000 đồng/tờ ở thời điểm được khảo sát. Cũng theo nguồn này, khoảng 10kg vỏ tươi hoặc 4kg vỏ khô nguyên liệu cho ra 120 tờ giấy.

Bài của Báo ảnh Việt Nam ngày 9/10/2022 còn kể chuyện ông Chúc từng mang giấy lên Văn Miếu, rồi về Nam Định tìm khách nhưng nhiều lần không bán được hàng. Sau khi hợp tác với Zó Project, gia đình ông có thêm đơn hàng và đón khách đến trải nghiệm nghề làm giấy. Sản phẩm của gia đình còn được giới thiệu tại các triển lãm và đưa ra thị trường nước ngoài.

Đến năm 2026, họa sĩ Thu Trần cùng nghệ nhân Suối Cỏ phát triển dòng giấy phối trộn sợi dó, dướng và dứa, phục vụ hội họa, nghệ thuật sắp đặt và trang trí. Sản phẩm của làng nghề từng xuất hiện trong triển lãm "Mưỡu" năm 2025. Đây là hướng mở rộng giá trị của nguồn sợi tự nhiên thay vì chỉ bán giấy truyền thống.

Ngoài hai địa phương trên, tư liệu của Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam năm 2010 còn ghi nhận người Mông tại Sơn La làm giấy cúng từ vỏ dướng, bên cạnh giấy tre và giấy rơm. Loại giấy này có màu trắng ngà, thô, dai và dày, được sử dụng trong các nghi lễ truyền thống. Đây là một trong những dẫn chứng cho thấy cây dướng còn gắn với đời sống tín ngưỡng của đồng bào dân tộc thiểu số tại nhiều vùng miền.

Cây dướng đã trồng có phải chặt bỏ ngay?

Theo điểm c khoản 3 Điều 10 Quyết định 143/2026/QĐ-UBND, đối với những cây đã trồng thuộc danh mục cấm tại đô thị và khu dân cư nông thôn, cơ quan, đơn vị có trách nhiệm quản lý phải lập kế hoạch từng bước loại bỏ, trồng thay thế nhằm bảo đảm an toàn và cảnh quan.

Như vậy, quy định không yêu cầu chặt bỏ đồng loạt ngay khi có hiệu lực. Những gia đình đang có cây dướng trong vườn nên liên hệ chính quyền địa phương để được hướng dẫn xử lý phù hợp, đặc biệt khi cây có nguy cơ gãy đổ, ảnh hưởng đến nhà ở hoặc công trình xung quanh.