Quảng cáo #23

Nếu loại trừ nhóm Vingroup, lợi nhuận thị trường ra sao?

Dữ liệu được tổng hợp từ 1.067 doanh nghiệp trên tổng số 1.748 doanh nghiệp, đại diện 98,8% vốn hóa toàn thị trường. Nhóm phi tài chính tăng trưởng lợi nhuận 73%, trong khi nhóm tài chính gồm ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm tăng 25,2%.

Theo báo cáo của Chứng khoán Thiên Việt (TVS), trong quý II/2026, lợi nhuận sau thuế thuộc cổ đông công ty mẹ của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán tăng 49,4% so với cùng kỳ. Đây là tốc độ tăng trưởng cao nhất trong nhiều quý gần đây.

Dữ liệu được tổng hợp từ 1.067 doanh nghiệp trên tổng số 1.748 doanh nghiệp, đại diện 98,8% vốn hóa toàn thị trường. Nhóm phi tài chính tăng trưởng lợi nhuận 73%, trong khi nhóm tài chính gồm ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm tăng 25,2%.

Đáng chú ý, nếu loại các doanh nghiệp thuộc hệ sinh thái Vingroup gồm VIC, VHM, VRE, VPL và VEF, lợi nhuận toàn thị trường vẫn tăng 34,6%, cho thấy sự phục hồi đã lan tỏa ra nhiều nhóm ngành.

Bất động sản và ngân hàng đóng góp lớn nhất

Có 16/19 nhóm ngành ghi nhận lợi nhuận tăng so với cùng kỳ. Xét về mức đóng góp tuyệt đối, bất động sản, ngân hàng, dầu khí, tài nguyên cơ bản và điện - nước - xăng dầu - khí đốt là những động lực chính.

Lợi nhuận ngành bất động sản tăng 257%, chủ yếu nhờ Vinhomes, Vingroup và KSF. Vinhomes tăng lợi nhuận 201% nhờ đẩy mạnh bàn giao tại các dự án Vinhomes Green Paradise, Vinhomes Saigon Park và Vinhomes Global Gate Hạ Long. KSF ghi nhận doanh thu gấp 46 lần và lợi nhuận gấp 111 lần cùng kỳ khi nhiều dự án Noble Palace bước vào giai đoạn bàn giao.

Các ngân hàng niêm yết đạt tổng lợi nhuận 87.935 tỷ đồng, tăng 24,7% và gần gấp đôi tốc độ tăng của quý I. Tổng thu nhập hoạt động đạt 217.053 tỷ đồng, tăng 18,8%, nhờ tín dụng tăng 17,8% và lãi thuần dịch vụ tăng 70%, lên 28.581 tỷ đồng.

Biên lãi ròng bình quân phục hồi lên 3,15%, trong khi tỷ lệ chi phí trên thu nhập giảm từ 31% xuống 28,9%. Tuy nhiên, tăng trưởng tập trung đáng kể tại một số ngân hàng lớn khi VCB và HDB đóng góp 44% mức tăng tuyệt đối toàn ngành.

Áp lực nguồn vốn và chất lượng tài sản bắt đầu xuất hiện. Tiền gửi chỉ tăng 5,5% từ đầu năm, thấp hơn mức tăng 8,9% của cho vay. Tỷ lệ nợ xấu duy trì ở mức 2,01%, nhưng nợ nhóm 2 tăng từ 1,23% lên 1,38%, còn tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm xuống 79%.

Dầu khí, điện và tài nguyên cơ bản tăng đột biến

Lợi nhuận ngành dầu khí tăng khoảng 243%. BSR lãi 7.460 tỷ đồng, gấp gần 9 lần cùng kỳ và chiếm 67% lợi nhuận toàn ngành nhờ biên lọc dầu tăng mạnh. PLX lãi 2.809 tỷ đồng, chủ yếu nhờ hoàn nhập khoảng 6.074 tỷ đồng dự phòng tồn kho đã trích trong quý I.

Ở chiều ngược lại, PVOIL lỗ 136 tỷ đồng, đánh dấu quý thua lỗ đầu tiên sau gần bốn năm. PVD giảm lợi nhuận 32%, còn PVS tăng 46,5% nhờ khoản thu nhập đột biến liên quan đến quyết toán, bồi thường hợp đồng.

Ngành điện - nước - xăng dầu - khí đốt tăng lợi nhuận 46,1%. POW đạt 3.519 tỷ đồng, tăng 484% và lập mức cao nhất kể từ khi niêm yết. Kết quả này đến từ sản lượng, giá bán điện tăng, đóng góp doanh thu 6.420 tỷ đồng của Nhơn Trạch 3 và 4, cùng 2.475 tỷ đồng lợi nhuận không thường xuyên. GAS lãi 5.850 tỷ đồng, tăng 23%; PGV lãi khoảng 1.447 tỷ đồng, tăng 65%.

Nhóm tài nguyên cơ bản tăng 83,2%. Hòa Phát tăng lợi nhuận 49,7% nhờ sản lượng tăng 64% và biên lợi nhuận thép cải thiện. Lợi nhuận MSR tăng 277 lần nhờ giá APT tăng mạnh, trong khi KSV tăng 2,7 lần nhờ giá vàng, bạc và đồng đi lên.

Ngành hóa chất tăng 55,4%, được hỗ trợ bởi giá cao su và urê. GVR lãi 2.289 tỷ đồng, tăng 58%; DPM tăng 125%; DCM tăng 36%. Trái lại, DGC giảm 54% do mỏ apatit số 25 tạm dừng khai thác, khiến doanh nghiệp phải sử dụng nguyên liệu nhập khẩu và mua ngoài.

Bán lẻ phục hồi, hàng không chịu sức ép

Lợi nhuận ngành bán lẻ tăng 105,5%. MWG tăng 100%, DGW và FRT cùng tăng 188%. MWG và DGW hưởng lợi từ giá bán thiết bị điện tử tăng cùng lượng hàng tồn kho giá thấp được tích trữ trước đó. FRT được hỗ trợ bởi chuỗi Long Châu, với doanh thu bình quân 1,4 tỷ đồng mỗi cửa hàng mỗi tháng và 122 cửa hàng mới trong quý.

Ba ngành ghi nhận lợi nhuận suy giảm là du lịch và giải trí, ô tô và phụ tùng, hàng cá nhân và gia dụng.

Du lịch và giải trí giảm 81,2% do giá nhiên liệu hàng không tăng. Vietnam Airlines lỗ 735 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ lãi 2.856 tỷ đồng; Vietjet lãi 334 tỷ đồng, giảm 49%.

Ô tô và phụ tùng giảm 88,8%, chủ yếu do CTCP Đầu tư Dịch vụ Hoàng Huy (HHS) không còn khoản lợi nhuận 3.507 tỷ đồng từ đánh giá lại tài sản như cùng kỳ. Nếu loại HHS, lợi nhuận các doanh nghiệp còn lại tăng 93,5%.

Ngành hàng cá nhân và gia dụng giảm 18,9% do PNJ lỗ 283 tỷ đồng sau khi trích lập 865 tỷ đồng cho nghĩa vụ mua lại kim cương. Nếu loại PNJ, lợi nhuận ngành vẫn tăng 22,7%, chủ yếu nhờ các doanh nghiệp dệt may.

Lợi nhuận tăng mạnh nhưng còn phụ thuộc khoản bất thường

Lợi nhuận doanh nghiệp trên HOSE, HNX và UPCoM lần lượt tăng 45,8%, 81,5% và 65,1%. Trong các chỉ số trên HOSE, VN30 tăng 61,4%, VNMID (VNMidcap) tăng 36,1%, còn VNSML (VN-Index Smallcap) giảm 24,5% do ảnh hưởng từ HHS; nếu loại doanh nghiệp này, nhóm vốn hóa nhỏ tăng 16,8%.

TVS đánh giá lợi nhuận thị trường vẫn có thể tăng trong nửa cuối năm, nhưng mức độ phân hóa sẽ rõ hơn. Một phần kết quả quý II đến từ bàn giao dự án và các khoản hoàn nhập, đánh giá lại hoặc thu nhập bất thường tại VIC, POW, PLX, HDB, PVS. Đồng thời, chi phí vốn, nợ nhóm 2 và áp lực trích lập dự phòng có thể ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng trong các quý tiếp theo.