Quảng cáo #23

Vì sao công nghệ chào bán nhiều mà người mua ‘quay lưng’?

Đến ngày 22/8/2026, các sàn giao dịch tại Việt Nam có khoảng 62.548 công nghệ chào bán nhưng chỉ có 750 nhu cầu tìm mua, tương đương khoảng 83 công nghệ chào bán trên một nhu cầu.

Chi cho nghiên cứu phát triển ở khu vực doanh nghiệp còn rất thấp

Ngày 23/10, tại Trụ sở Văn phòng Chính phủ, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) phối hợp với Văn phòng Chính phủ tổ chức Hội nghị toàn quốc thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển KH&CN, dưới sự chủ trì của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng.

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, việc hợp tác giữa viện, trường và doanh nghiệp đã tạo ra những công nghệ, sản phẩm có hiệu quả cụ thể.

Năm 2026, Viettel và Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội đã bàn giao, ứng dụng kết quả ba nhiệm vụ: trợ lý lập trình CoDev, mô hình ngôn ngữ viễn thông TelcoLLM và nền tảng AI Platform.

Viện Công nghiệp Giấy và Xenluylô phối hợp với Công ty Giấy Sông Đuống giúp giảm 10,8% điện năng tiêu thụ, tăng 5,09% tốc độ máy xeo.

Viện Nghiên cứu Cơ khí phối hợp với các trường đại học và doanh nghiệp làm chủ thiết kế, chế tạo bảy hệ thống thiết bị phụ cho tổ máy nhiệt điện than công suất đến khoảng 600MW, ứng dụng tại các nhà máy Sông Hậu 1, Thái Bình 1 và Nghi Sơn 2.

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng phát biểu tại Hội nghị.

Bộ Khoa học và Công nghệ nhận định, những mô hình hiệu quả cho thấy hợp tác có thể

duy trì khi doanh nghiệp có bài toán rõ, đội ngũ tiếp nhận và cam kết đầu tư; viện, trường tham gia giải quyết yêu cầu thực tế; nguồn lực được tiếp nối đến khâu ứng dụng.

Tuy nhiên, theo Bộ Khoa học và Công nghệ, nhiều nhu cầu công nghệ chưa trở thành đơn đặt hàng, nhiều kết quả nghiên cứu chưa đủ điều kiện đưa ra thị trường. Năm 2024, tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo là 34,6%, ở doanh nghiệp nhỏ, chỉ có 6,7% có bộ phận nghiên cứu và phát triển.

Số liệu của Bộ Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2026 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) cũng cho thấy chi nghiên cứu và phát triển do khu vực doanh nghiệp thực hiện của Việt Nam bằng 0,3% GDP, so với 1,3% của Singapore, 2,1% của Trung Quốc và 4,2% của Hàn Quốc.

Đặc biệt, theo Bộ Khoa học và Công nghệ, đến ngày 22/8/2026, các sàn giao dịch được tổng hợp có khoảng 62.548 công nghệ chào bán nhưng chỉ có 750 nhu cầu tìm mua, tương đương khoảng 83 công nghệ chào bán trên một nhu cầu. Trong 8 tháng đầu năm 2026, các sàn ghi nhận 72 giao dịch thành công với tổng giá trị 11,233 tỷ đồng.

Theo Bộ KH&CN, vướng mắc không chỉ nằm ở nguồn vốn mà còn ở cách tổ chức hợp tác. Doanh nghiệp tham gia muộn khiến tính năng, giá thành và khả năng tích hợp chưa được thống nhất từ đầu; kết quả nghiên cứu thiếu dữ liệu vận hành, tiêu chuẩn, chứng nhận và vốn hoàn thiện.

Ngoài ra, các bên còn lúng túng về định giá, quyền khai thác, chia sẻ lợi ích và trách nhiệm khi thử nghiệm. Sản phẩm mới khó tìm khách hàng đầu tiên, trong khi hiệu quả sau nghiệm thu chưa được theo dõi thường xuyên.

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân trao đổi tại Hội nghị.

Giải quyết vấn đề này, Bộ Khoa học và Công nghệ cho rằng, cần đưa các cơ chế mới vào thực tế, duy trì hợp tác từ hình thành bài toán đến khi công nghệ được sử dụng.

Các giải pháp tập trung được Bộ nêu ra như đo lường kết quả liên kết bằng 10 chỉ số, khai thác dữ liệu sẵn có; đồng tài trợ theo vốn doanh nghiệp thực góp; gắn phân bổ kinh phí cho viện, trường với kết quả hợp tác và chuyển giao công nghệ; nâng cao năng lực tiếp nhận của doanh nghiệp; tạo lập thị trường ban đầu cho sản phẩm mới và phát huy vai trò tổ chức trung gian, cụ thể hóa quyền tự chủ trong nghiên cứu và chuyển giao công nghệ.

Doanh nghiệp cần tham gia từ khâu xác định nhiệm vụ nghiên cứu

Đại diện Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội cho biết, địa phương này đã từng bước cụ thể hóa các thỏa thuận hợp tác giữa ba bên thành nhiệm vụ và sản phẩm. Ví dụ tiêu biểu là sản phẩm máy phát tia plasma lạnh (PlasmaMED) do Công ty Cổ phần Công nghệ Plasma Việt Nam tiếp nhận nền tảng nghiên cứu của Viện Vật lý, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, phối hợp với các nhà khoa học của viện và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội để hoàn thiện công nghệ, sản xuất thử nghiệm 20 máy PlasmaMED thế hệ II.

Tuy nhiên, đại diện Thủ đô cũng cho rằng, việc triển khai mô hình hợp tác Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp vẫn còn một số điểm nghẽn như nhu cầu chưa được chuyển thành bài toán cụ thể, doanh nghiệp chưa giữ vai trò hạt nhân xuyên suốt, đồng thời còn khoảng trống từ kết quả nghiên cứu đến sản phẩm thương mại, cũng như cơ chế hợp tác và đánh giá chưa theo sát chuỗi giá trị.

Để thúc đẩy mô hình hợp tác Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp, thành phố Hà Nội kiến nghị tổ chức đặt hàng từ nhu cầu của doanh nghiệp và thực tiễn. Bên cạnh đó, hình thành nhóm hợp tác ba nhà theo từng nhiệm vụ, thiết lập cơ chế chính quyền là khách hàng đầu tiên đối với sản phẩm công nghệ giải quyết nhu cầu công.

Ngoài ra, phát huy vai trò của tổ chức trung gian và nguồn vốn theo từng giai đoạn, đồng thời đo hiệu quả bằng công nghệ được làm chủ, vốn doanh nghiệp thực góp, hợp đồng chuyển giao, sản phẩm được sử dụng, doanh thu, năng suất và chi phí tiết kiệm.

Hà Nội cũng kiến nghị tháo gỡ vướng mắc về khai thác tài sản công, phòng thí nghiệm, thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Là đơn vị nghiên cứu, đào tạo, đại diện Đại học Huế đề xuất tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản trị rủi ro nghiên cứu, đồng thời sớm giải quyết bài toán thiếu cơ chế tài trợ liên tục từ nghiên cứu đến chuyển giao, cũng như hoàn thiện cơ chế khai thác và thương mại hóa tài sản trí tuệ.

Viện lúa đồng bằng Sông Cửu Long cho rằng, nhà nước cần hỗ trợ 100% kinh phí cho hợp phần nghiên cứu cơ bản và công nghệ lõi vốn tiềm ẩn rủi ro cao, đồng thời áp dụng cơ chế quản lý nghiệm thu theo mốc kiểm chứng để bảo đảm hiệu quả ngân sách.

Về cơ chế liên danh, đơn vị này kiến nghị cho phép và khuyến khích mô hình tuyển chọn liên danh linh hoạt giữa Viện/Trường – Doanh nghiệp công nghệ để huy động tối đa chuyên gia giỏi và hạ tầng dùng chung. Khuyến khích doanh nghiệp tham gia đầu tư ngay trong giai đoạn nghiên cứu, thay vì chỉ giai đoạn thương mại hóa sản phẩm.

Đại diện Viettel phát biểu tại Hội nghị.

Đại diện Viettel cho rằng, cần đẩy mạnh triển khai mô hình “Doanh nghiệp đặt bài toán – Nhà nước đặt hàng – Viện, trường nghiên cứu – Doanh nghiệp ứng dụng”; doanh nghiệp tham gia từ khâu xác định bài toán, xây dựng nhiệm vụ đến đánh giá kết quả; sử dụng các mốc kiểm chứng để quyết định tiếp tục, điều chỉnh hoặc dừng nhiệm vụ.

Doanh nghiệp này cũng kiến nghị nhà nước ưu tiên bố trí kinh phí, đồng tài trợ cho giai đoạn hoàn thiện công nghệ, gắn với kết quả kiểm chứng và đóng góp của doanh nghiệp đồng thời mở rộng việc dùng chung hạ tầng đo kiểm, phòng thí nghiệm.

Bên cạnh đó, cần có hướng dẫn cụ thể việc định giá, chuyển giao, khai thác kết quả nghiên cứu, đồng thời ban hành mẫu thỏa thuận về quyền sở hữu, quyền sử dụng và phân chia lợi ích theo đóng góp về tri thức, tài chính, hạ tầng và trách nhiệm thương mại hóa.